Xã hội

Thời Đại Săn Hái (Thời Tiền Sử – Pre-history)

Phạm Văn Bản

Loài người trải qua nhiều cuộc trường kỳ tranh đấu để thay đổi, tiến hóa và phát triển đời sống bản thân, đời sống gia đình, đời sống dân tộc, đời sống nhân loại. Mỗi lần bước từ thời đại này tiến sang thời đại mới thì các hình thức và cấu trúc tổ chức gia đình, đoàn thể, xã hội, văn hóa, chính trị, kinh tế, giáo dục, ngoại giao, quân sự, luật lệ, hiến pháp cũ cũng phải đoạn tuyệt và thay đổi tổ chức mới, cấu trúc mới, phương thức mới, điều hành mới, sinh hoạt mới. Tất cả đã không chuyển tiếp mà đổi mới toàn bộ.

Thời đại sau tiến nhanh hơn thời đại trước.

Bởi rằng con người biết truyền thụ kinh nghiệm cho nhau, với những gì đã tìm tòi, học hỏi, thu lượm từ sắc nhiễm thể, giòng máu, truyền sinh và gia tăng dân số. Từ những đơn vị cá nhân riêng rẽ ở thuở sơ khai, con người đã tiến bộ và biết sống chung hợp thành gia đình. Gia đình được gọi là tổ chức đầu tiên – vì có hai người trở lên thì mới gọi là tổ chức – nhằm đáp ứng nhu cầu sinh tồn, tạo ra sức sống sức mạnh, tạo ra tinh thần kỷ luật, bổn phận và trách nhiệm.

Ý thức bổn phận trách nhiệm của con người được đề cao với đức tính sống chung trong tập thể, gọi là tổ chức xã hội bộ tộc và phát triển ngày càng rộng lớn hơn. Đơn vị chính trị của con người sơ khai khi chưa có nhu cầu sinh hoạt, chưa có nhu cầu tổ chức, chưa có nhu cầu biên cương thì hoạt động con người mạnh ai nấy sống, gọi là cá nhân vị kỷ.

Nhưng theo giòng thời gian, biên cương lãnh vực tổ chức xã hội bộ tộc được ấn định do thỏa thuận của những bộ lạc trong vùng được phân chia ranh giới rõ ràng và ghi chép lại thành văn bản, giao ước, khế ước. Bởi thế người sống chung trong lãnh thổ đã có chung nguồn gốc, dòng giống, ngôn ngữ, phong tục, tập quán, lịch sử, văn hóa.

Con người thành lập và tổ chức gia đình đã phát sinh nhu cầu nuôi nấng, chăm sóc, giáo dục con cái. Do đó có sự phân chia cộng việc, phân chia khả năng, phân chia bổn phận và trách nhiệm giữa hai vợ chồng trong gia đình. Thời gian nuôi nấng con người từ lúc sơ sinh cho tới khi có thể kiếm ăn và tự lập cánh sinh đã cần một thời gian lâu dài để chăm sóc, thực tập, dưỡng dục. Nếu chúng ta so sánh với các sinh vật hay động vật khác khi chúng vừa ra đời đã biết kiếm ăn ngay, hoạt bát, nhanh nhẹn và mạnh khỏe hơn con người.

Gia đình ngay từ thời đại săn hái, vợ chồng đã phân công cho nhau, một người ở nhà làm nội trợ trông con giữ lửa, và người kia đi ra ngoài làm công nhân kiếm ăn mang vể nuôi vợ nuôi con. Hình ảnh phân công phân nhiệm đầu tiên của con người đã được các nền văn hóa ghi nhận, đề cao và lập thành bảng giá trị thời đại.

– Kinh Tế Săn Hái

Săn hái là hoạt động kiếm ăn của các loài sinh động vật, chớ không dành riêng cho con người. Thuở hồng hoang người ta kiếm ăn bằng cách săn hái: săn thú bắt chim, săn cá bắt tôm, săn cua bắt hến… và hái trái lươm hạt, hái hoa đào rễ, hái lá thu mật mang về nhà cho vợ làm tiệc tùng. Cấu trúc xã hội cũng đơn sơ dăm cái hang động, vài ba túp lều, lẻ tẻ thôn ấp và tạo ra nền chính trị với chế độ bộ lạc trong suốt bao triệu năm.

Kinh tế ở thời đại săn hái thì con người chỉ cần miếng ăn thức uống, cho nên nhu cầu đời sống của họ chỉ là đám rừng, mảnh ruộng, bãi nương, con suối… được gọi là bờ xôi ruộng mật. Vì nguồn cung cấp lương thực hằng ngày là rừng chồi thu hoạch rau cải, bờ sông bãi sú đánh bắt cá tôm, cánh đồng cỏ hoang bẫy thú lưới chim.

Săn hái trở thành hoạt động xã hội dễ dàng nhất, sâu đậm nhất, tiềm tàng nhất trong huyết quản của con người đã từng trải nghiệm qua bao chục triệu năm. Bất cứ thời đại nào, bất cứ địa vị nào, bất cứ lãnh vực nào xưa nay con người vẫn thích săn hái, thích “cò đất,” thích quan tham.

Săn hái là kiếm ăn có thu hoạch nhanh nhất, dễ nhất, tiện nhất vì hành nghề không cần học hành tính toán, không nặng đầu óc suy tư, không đòi vốn liếng đầu tư… mà có ngay, có sẵn, có của ăn vật để. Đồng thời giúp con cháu du học, nhằm mở cửa cho mình thoát thân khi việc làm quan tham ở trong nước bị bại lộ, bị tổng tịch đánh.

Theo giòng thời gian, con người muốn sinh tồn thì phải tạo ra lương thực, sản phẩm và phương tiện cải thiện cuộc sống. Người ta tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu phát minh và gia tăng sản xuất. Mỗi thời đại, lại có phương thức sản xuất mới, phát minh sáng chế những dụng cụ, khí cụ mới.

Biên cương đơn vị chính trị của con người săn hái, được ấn định theo mức độ an ninh bộ tộc. Có những bộ tộc ở cách xa nhau dăm ba ngày đường, tùy thuộc vào tình trạng thực phẩm mà người ta quy định khoảng cách. Thời kỳ chưa có văn tự, nên biên cương là sự mặc nhiên công nhận giữa các bộ tộc lân cận.

Bộ tộc gồm có hai yếu nhân, một người trưởng bộ tộc được gọi là “Tướng Quân” lãnh đạo phần xác (vật chất), và một “Thày Cúng” đặc trách phần hồn (tinh thần). Khách du lịch đến Mễ Tây Cơ thường gặp Thày Cúng của bộ tộc du mục Mayan đốt nhang, xông hương, cầu nguyện trước cửa hang động pha lê Riviera.

Chính Trị Bộ Lạc

Thuở hồng hoang con người chỉ biết trèo cây, hái trái, hoặc rình bắt chim muông, sống trên cành cây cao hay trong hang động tránh thú dữ. Nhờ có trí khôn con người biết chế tạo vũ khí và dụng cụ săn hái mỗi ngày thêm sáng kiến, thêm hiệu quả, thêm thu hoạch. Đời sống du mục nay đây mai đó, tùy thuộc vào điều kiện thiên nhiên, thời tiết thuận lợi, kinh tế dồi dào.

Ngàn năm trôi qua, có những lúc bình yên êm ấm con người ngắm vũ trụ vạn vật xung quanh để suy tư, để sáng tạo, để đặt kế hoạch và chương trình sống. Nhìn trời cao vô tận, vực thẳm hun hút, giòng thác cuồn cuộn, hay đồng cỏ mênh mông con người rút tia những kinh nghiệm sống. Rồi từ những sự kiện thực tế ấy con người tìm cách trồng tỉa, chăn nuôi, thuần hóa để bắt đầu một đời sống mới, no ấm, thanh bình, an hòa.

Từ tâm lý an sinh của con người, nhu cầu chính trị cũng bắt đầu phải có, vì tay làm hàm nhai, đất đai hạn chế, dân số gia tăng, cho nên xã hội bộ lạc cần có an ninh trật tự, phân chia đất đai, tổ chức làng xã. Nhưng nếp sống nông nghiệp chỉ hiện ra trên những cánh đồng bằng phì nhiêu, phù sa, màu mỡ dọc theo những giòng sông lớn, con người dựng làng lập nghiệp.

Trái lại, những nơi có núi cao rừng thẳm, sỏi đá băng tuyết, con người vẫn phải tiếp tục săn hái mưu sinh. Điều kiện và hòan cảnh du mục con người phải biết tổ chức đội ngũ binh bị, huấn luyện chiến đấu, thu nhập lương thực để có khả năng sinh tồn, bảo đảm sinh kế, an toàn sinh nhai.

Thời đại săn hái được chia thành hai sắc dân, hai xã hội, hai chế độ: du mục và nông nghiệp. Theo khuynh hướng chính trị con người phát minh ra hai phương thức điều hành quản trị dân nước là chế độ mẫu hệ theo văn trị, và chế độ phụ hệ theo võ trị.

– Chế Độ Mẫu Hệ/ Văn Trị

Tổ Tiên dòng Trăm Việt đã sống đời nông nghiệp với thời đại thanh bình, ấm no, hạnh phúc được diễn tả trong Truyền Thuyết Tiết Liêu của Chánh Thuyết Tiên Rồng, và những vị vị vua hiền chăm lo đời sống toàn dân. Từ khi có Việt Lịch năm 2879 trước Công Nguyên có nước Văn Lang với 18 Vua Hùng lập quốc trong vùng phía Nam Hồ Động Đình, Sông Dương Tử và trải dài tới miền Bắc Việt Nam ngày nay. Đang khi xã hội bộ tộc du mục của Trung Quốc phát nguồn từ phía giòng sông Hoàng Hà là hướng Tây Bắc của Trăm Việt.

Vào thời này nhu cầu kinh tế tiến đến đâu thì chính trị cũng thay đổi tới đó. Mọi người trong xã hội đồng thuận với những truyền thống sinh hoạt chung, và mỗi khi có sự đồng thuận thì đất nước có hòa bình, thịnh vương, an lành. Con người trổi vượt những thử thách của thời gian trong nếp sống thân thương, bình đẳng, tương trợ cho nên nếp sống du mục hay nông nghiệp cũng theo truyền thống. Kinh tế của con người cũng là kinh tế truyền thống, mặc dù hai nếp sống kinh tế du mục và kinh tế nông nghiệp khác biệt nhau.

Hai nếp sống du mục và nông nghiệp phát triển riêng biệt, nhưng rồi cũng phải gặp nhau, vì biên cương đất đai cũng có giới hạn bởi núi cao và biển cả. Sự khô cằn băng giá của miền đất Bắc đã đẩy con người phải di chuyển về phương Nam, và rồi sự nguy hiểm của núi rừng trùng điệp lại dồn con người ra hướng biển.

Khi hai nếp sống du mục và nông nghiệp đụng chạm nhau, thì những xung đột xảy ra rõ rệt.

Nếp sống du mục dựa vào săn bắn, nếp sống nông nghiệp dựa vào trồng trọt.

Dân du mục sống trong đấu tranh, dân nông nghiệp sống trong hợp tác.

Sức mạnh của dân du mục là tiêu diệt, sức mạnh của nông nghiệp là vun trồng.

Khi những xung đột không được giải quyết bằng thương lượng, thì chiến tranh xảy ra. Kết qủa nếp sống du mục Trung Quốc thắng cuộc bởi vì chiến tranh là sở trường của họ. Sự chiến thắng của du mục người Hoa được kéo dài bằng khả năng nuôi dưỡng của nếp sống nông nghiệp người Việt. Do đó nền kinh tế truyền thống lại phải phục tùng một nếp sống kinh tế mới, gọi là nền kinh tế pháp lệnh.

Nền kinh tế pháp lệnh là tổ chức cai trị một chiều. Mọi người trong một vùng phải tuân theo lệnh của lãnh chúa. Mọi sinh hoạt kinh tế bị kiểm soát và định đoạt bởi triều đình và nhóm người hành pháp. Gặp vua sáng tôi hiền thì dân được hưởng nhờ, gặp vua quan độc ác thì dân chịu đau khổ. Cấu trúc của nền kinh tế pháp lệnh mang hình Kim Tự Tháp và thể hiện nền văn hóa Chủ -Nô (chủ nhân và nô lệ) hay còn gọi là tổ chức theo sơ đồ ba góc vẫn tồn tại trong xã hội nhân loại ngày nay.

Cả hai nền kinh tế truyền thống và pháp lệnh tiến rất chậm, vì không có nhu cầu cạnh tranh. Theo truyền thống thì cha truyền con nối, nhất nghệ tinh nhất thân vinh, còn pháp lệnh thì bảo sao nghe vậy, chính quyền nói sai thì dân chúng cũng đành nghe theo.

Nhìn chung các bộ lạc chủ yếu về nông nghiệp thì tổ chức công việc quản trị theo chế độ mẫu hệ. Người đứng đầu bộ lạc, trưởng tộc/ hay trưởng bộ lạc là nữ giới. Người phụ nữ giữ vai trò lãnh đạo chính trị, đang khi cánh đàn ông chỉ là phụ thuộc và bảo sao nghe vậy. Theo chế độ mẫu hệ, phụ nữ đứng đầu bộ tộc từ trong gia đình ra ngoài xã hội như Trưng Nữ Vương, Triệu Nữ Vương.

– Chế Độ Phụ Hệ/ Võ Trị

Các bộ lạc du mục thì nay đây mai đó, không có chỗ ở nhất định và đi tìm đến vùng sữa mật để kiếm ăn sinh sống. Khi vùng đất ấy trở nên khô cằn, thì con người lại phải đi tìm vùng màu mỡ khác. Đời sống du mục thường gặp nhiều chướng ngại trên đường di chuyển như thú dữ, bộ lạc hiếu chiến khác, cho nên nhu cầu lãnh đạo phải là người có đủ sức mạnh đối phó, và nam giới được chọn làm trưởng tộc/ trưởng bộ lạc, từ đó chế độ phụ hệ ra đời. Ví dụ Thành Cát Tư Hãn, Tổ Phụ Abraham.

So sánh hai chế độ mẫu hệ và phụ hệ, thì chế độ phụ hệ có phần trổi vượt hơn, lấn lướt hơn, vì dân du mục quen sống chiến đấu tranh giành, xâm chiếm đất đai. Khi bộ lạc du mục người Hoa đến tranh đoạt thì dân theo mẫu hệ yếu thế hơn, thích cầm kỳ thi tửu không quen chiến tranh, không thích cảnh chém giết, nên dân nông nghiệp người Việt đành bỏ vùng định cư mà di tản nơi khác. Nhưng rồi đất đai cũng có giới hạn mà lòng người thì tham vô đáy, vì thế có nhiều bộ lạc bị diệt vong hoặc đồng hóa. Thiểu số bộ lạc sống sót, vì nhu cầu sinh tồn nên họ phải liên kết lại mà thành lập quốc gia.

Những bộ lạc du mục cũng thế, vì nhu cầu sát nhập của các bộ lạc để đấu tranh với những bộ lạc hùng mạnh khác, cộng thêm tình trạng dân số gia tăng, đất đai có chủ và cần tổ chức xã hội qui mô để bảo vệ, để canh phòng cương vực sở hữu. Hình thức tổ chức nhiều sắc dân trên vùng lãnh thổ rộng lớn. Quyền hành nằm trong tay một người với một số thuộc hạ, hoặc họ hàng thân thích để hướng dẫn đời sống dân trong lãnh thổ nhằm phát triển trong trật tự và điều hòa.

Điều hành quản trị một vùng lãnh thổ lớn gọi là quốc gia, nhà lãnh đạo chính trị của quốc gia gọi là vua. Từ đó thể chế quân chủ ra đời, tức đợt sóng thay đổi/ thời đại nông nghiệp.

Thời đại nông nghiệp những cuộc đấu tranh chính trị đã khởi xướng. Sức mạnh tiềm ẩn bao gồm lý tưởng, nhân sự, tổ chức và nguồn vật lực. Ví dụ trưởng bộ tộc nghĩ rằng, nếu được trang bị nghi thức uy nghiêm huyền bí thì ông sẽ tăng quyền lực lãnh đạo, củng cố bộ lạc, phát huy sức mạnh chiến đấu, thực hiện lý tưởng với mộng xâm lăng bành trướng bộ lạc rộng ra khắp vùng.

Muốn thực hiện lý tưởng bành trướng bá quyền, Tướng Quân và Thày Cúng phải hợp tác trong việc đi tìm nhân sự, gồm những người có khả năng học tập, khả năng hoạt động, khả năng tổ chức và sau khi các ông đã nghiên cứu, phân tích, tổng hợp và nhận định tình hình địch – bạn. Đồng thời ông còn phải nhận định khả năng của chính ông, giữa ta và người, rồi mời gọi những người cùng lý tưởng, cùng cấp độ, cùng khả năng thuộc nhiều lãnh vực trong xã hội, mà họ đồng ý thực hiện chung lý tưởng bành trướng này.

Thứ đến, những người có cùng mục tiêu, hoài bão, lý tưởng ngồi lại để bàn thảo, đặt kế hoạch sách lược và chương trình hành động, ấn định những điều kiện luật lệ mà những người tham gia phải tôn trọng để thành lập tổ chức. Tổ chức là nơi tập hợp các cá nhân, các khả năng, các lãnh vực chuyên biệt để tạo nên quyền lực và sức mạnh đấu tranh. Tổ chức còn là nơi đào tạo, cung cấp nhân sự cho các mục tiêu chính và mục tiêu phụ trong công cuộc đấu tranh. Tổ chức cung cấp nhân sự, kế hoạch hành động và là tiềm lực của sức mạnh đấu tranh.

Nếu được trang bị lý tưởng và chính nghĩa, có nhân sự và kế hoạch hoàn chỉnh, mà thiếu phương tiện cung ứng thì không thể thành công. Nguồn vật lực gồm của cải vật chất (tiền bạc, vật liệu, kinh thương, hãng xưởng sản xuất, cơ sở kinh doanh) đóng góp cho tổ chức làm phương tiện nuôi dưỡng và phát triển, tức là làm cho khả năng chuyên biệt của mỗi nhân sự thành viên được thăng tiến, phát huy và mở rộng những mặt trận phụ. Tất cả hỗ trợ cho chiến trường chính, mục tiêu chính, thành quả chính theo đúng kế hoạch của tổ chức đấu tranh thắng lợi.

Tóm lại, sức mạnh nền tảng của cuộc đấu tranh chính trị ngay từ thời đại nông nghiệp, ắt có và đủ để thành công là lý tưởng, nhân sự, tổ chức, vật lực. Sau đó Tướng Quân và Thày Cúng mới vận dụng thông tin tuyên truyền để được chính danh, chiêu mộ, thu phục nhân tài gồm quân sự, tư tưởng, kỹ thuật để tăng cường ban tham mưu và phát triển lực lượng quân sự.

Views: 0

Người đăng bài viết

Joe M.D.